GIÓ THỔI MIỀN KÝ ỨC-TRƯỜNG CA CỦA NGƯỜI CẦM SÚNG LÀM NÊN HÒA BÌNH

0
59

                                                        BBT: Thoinet

GIÓ THỔI MIỀN KÝ ỨC – TRƯỜNG CA
CỦA NGƯỜI CẦM SÚNG LÀM NÊN HÒA BÌNH 
 Nhà thơ, nhà báo Trần Thế Tuyển
                                                                             Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Trường ca GIÓ THỔI MIỀN KÝ ỨC của nhà thơ Trần Thế Tuyển vừa được Nhà xuất bản QĐND ấn hành còn thơm mùi mực mới. Đây là tập Trường ca thứ hai sau trường ca Phía sau mặt trời của anh. Hai tập trường ca đều viết về đề tài người chiến sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, riêng Gió thổi miền ký ức còn thêm phần bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế giúp Cam-pu-chia. Trường ca Gió thổi miền ký ức là những thước phim thơ ngược dòng thời gian của anh Giải phóng quân ngày ấy, là một Cựu chiến binh hôm nay một thời cầm súng làm nên hòa bình.
       Trận địa cũ còn đâu nguyên vẹn/ Lô cốt xưa thành phố xá tỏ mờ… Và rồi: Tuổi hai mươi găm ở nơi đây/ Kỷ niệm xưa và những gì hiện tại/ Như dòng sông con nước vơi đầy. Chiến tranh là sự tàn ác khốc liệt, mất mát đau thương và bất hạnh trên đất nước ta. Vùng Đồng Tháp Mười trên đôi bờ dòng sông Vàm Cỏ trong những năm tháng đã đi qua nơi “cánh đồng chó ngáp,” nơi thẳng cánh cò bay, nơi đã đi vào thi ca. “ Vàm Cỏ đông đây ta quyết giữ. Từng chiếc xuồng, tấm lưới, cây dầm” và cũng là nơi trận địa đau thương. Một thời ra trận, một thời đánh giặc đã được anh giải phóng quân năm nào, nhà thơ Trần Thế Tuyển bây giờ lượng hóa, mở rộng biên độ thi ca bằng trường ca thể hiện nguyên vẹn những ký ức tươi nguyên một thời tuổi trẻ trên mảnh đất Long An trung dũng kiên cường. Nơi có hàng ngàn anh giải phóng quân ra đi trên khắp các miền quê đất nước nằm lại trên mảnh đất này, vì hòa bình hôm nay và mãi mãi.
         Trường ca Gió thổi miền ký ức đã được nhân vật Thạch hóa thân thành Cựu chiến binh một thời đến Long Khốt là những đoàn quân, như những chiếc đinh đóng lên mặt kẻ thù. Anh đã dẫn dắt chúng ta đi qua từng trận đánh: Trận đánh đêm nay đâu phải trận cuối cùng/ Phía trước vẫn cực kì khốc liệt/ Thạch khát khao trước khi giã biệt/ Được hôn lên đôi mắt chưa yêu/ Dẫu ra đi về chốn phiêu diêu/ Vẫn khát thèm gò bồng con gái. Thế đấy, người chiến sĩ trước khi vào trận đánh, vẫn khao khát tình yêu bình thường của những con người bình thường, một thời trai trẻ, một thời non tơ không muốn chết khi vẫn là con trai: Đồng đội anh bao người đã đi rồi/ Vẫn con trai khi ngã vào lòng đất/ Thạch cũng thế anh không sợ chết/ Chỉ sợ mình mãi mãi con trai. Vượt qua mưa bom bão đạn trở về, bây giờ đi trên chiến trường xưa vẫn nhớ mãi câu hát bông sen, vẫn nhớ mãi cái khao khát được hôn, được yêu trước giờ ra trận dẫu có phải hy sinh: Hay ngào ngạt từ hương tràm gợi nhớ/ Đồng Tháp Mười đang mùa sen nở/ Hương từ sen hay từ tóc của em?
         Trong khoảnh khắc của chiến tranh trước giờ vào trận sống chết chưa biết thế nào thì tình người, tình bạn gái trai nhất là dòng máu trong con tim vẫn háo hức bừng lên lãng mạn của ánh mắt lứa đôi. Đồng đội anh ở lại trên mảnh đất đau thương cho đến bây giờ đang yên giấc vẫn là con trai chưa biết “trái cấm” là gì. Hương sen và hương tràm Đồng Tháp Mười đang ru các anh mãi mãi ngàn thu. Mới hôm qua thôi, bạn anh còn làm thơ/ Bài thơ nói về dòng sông Vàm Cỏ/ Có bóng hình cô gái nào nho nhỏ/ Lái xuồng trong thoang thoảng hương sen/ Bạn anh ước khi kết thúc chiến tranh/ Sẽ trở về giảng đường đại học/ Sẽ trở thành nhà thơ viết về những tháng ngày cực nhọc… Chiến tranh thật tàn ác, lạnh lùng và như có đôi lần tôi (NVQ) đã viết cho ngày Ba mươi tháng Tư: Đường vào Sài Gòn còn chẳng bao xa – Chỉ cần qua đêm nay sẽ đến – Không kịp nữa rồi đồng đội ơi ở lại – Vĩnh biệt các anh chúng tôi vội lên đường. Và nhà thơ Trần Thế Tuyển đau xót trước sự hy sinh của đồng đội mình: Chỉ chốc lát chiến tranh chấm dứt/ Chỉ chốc lát hết tháng ngày thao thức/ Cuộc đoàn viên hội ngộ mấy mươi năm. Đau xót lắm chứ, nỗi đau của người cầm súng cùng trên trận tuyến chống quân thù, để có độc lập tự do cho Tổ quốc hôm nay, phải gánh lấy hy sinh cho Tổ quốc hòa bình. Thôi tiếng súng thôi một thời máu lửa/ Cô gái Thủ Thừa không cầm súng nữa/ Áo bà ba tắc ráng lướt Vàm Cỏ Đông/ Để câu hát xa xưa khắc khoải chờ mong/ “Ở tận sông Hồng em có biết/ Quê hương anh cũng có dòng sông”…
      Hòa bình chưa được bao lâu, biên giới phía Nam, phía Bắc lại rung trời đạn nổ, một loại kẻ thù mới ngang nhiên xuất hiện. Súng lại nổ vang trên bầu trời biên giới và kẻ thù buộc ta ôm cây súng, quân dân cả nước lại lên đường ra trận và đồng đội Thạch, anh giải phóng quân hôm nào áo chưa sạch mùi thuốc súng lại về Long Khốt giúp bạn cứu mình nơi biên giới Tây Nam. Nhà thơ lại hành quân, trở về nơi chiến trường còn nham nhở hố bom, còn tanh tưởi mùi thuốc súng, trở lại Cam-pu-chia cứu đất nước Ăng-Co khỏi thảm họa diệt vong. Thạch tìm về phum Thơ-mây một thuở/ Chẳng thấy ai chỉ thấy tan hoang nhà cửa/ Phun sóc như bãi tha ma. Một đất nước, một tổ quốc mà bị chính những loài ác thú cùng dòng giống, họ tàn sát nhau mà loài người gọi là diệt chủng thì còn gì để nói. Chúng muốn giết đi nòi giống Khơ-me, giết đi nền văn minh Ăng-Co: Người chết tự bao giờ chẳng biết/ Tiếng quạ kêu nghe đến ghê người/ Mùi tử thi nồng nặc đất trời/ Người còn sống như bộ xương khô đét/ Gặp bộ đội rồi mừng vui khôn xiết/ Đã sống rồi một bà mẹ thốt lên/ Bộ đội Việt Nam như Phật như Tiên/ Cứu dân tộc này thoát họa diệt vong.
        Trong thời gian chưa đến mười ngày, với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, cả dân tộc Khơ-me thoát khỏi họa diệt chủng. Nhưng sự tàn ác lạnh lùng của lũ quân Pôn Pốt, được sự hà hơi tiếp sức của các thế lực phản động vẫn ngoan cố với mưu đồ thâm hiểm, nhân dân Cam-pu-chia đã giữ chân bộ đội Việt Nam – trong đội quân nhà Phật đến mười năm làm nghĩa vụ quốc tế, bộ đội Việt Nam đã phải hy sinh biết bao con người, máu xương và vật chất. Phải gác lại biết bao nhiêu khát vọng, hoài bão ước mơ, lỡ nhịp yêu đương chỉ vì hai từ giúp bạn. Bước chân hành quân vì sự hồi sinh cho một dân tộc sắp bị diệt vong mà vị Vua Cam-pu-chia đã phải thốt ra tiếng nói từ trái tim mình: “Quân đội Việt Nam là đội quân nhà Phật”  đã cứu sống nhân dân, dân tộc Cam-pu-chia trước những loài ác thú. Qua đau thương những  người sống sót họ mong muốn điều gì: Anh ở lại đây trên quê hương Chùa Tháp/ Em sẽ đưa anh thăm đền Ăng Co Vát/ Em sẽ đưa anh thăm Biển Hồ/ Và uống rượu từ trái cây thốt nốt/ Đêm đêm anh sẽ nghe em hát/ Điệu chơ-riêng say đắm hồn người.
          Tình quân dân của quân đội cách mạng với tinh thần quốc tế cao cả mang lại sự hồi sinh cho dân tộc bạn bè đã được nhà thơ chuyển tải qua trường ca bằng một tình cảm đặc biệt vô tư trong sáng mà đẹp đẽ.  Chắc rằng trên thế giới này chưa ở đâu có tình cảm đặc biệt như thế. Tạm biệt đất nước Chùa Tháp khi họ đã hồi sinh cứng cáp, các anh mới trở về Tổ quốc mình  truy tìm thời tuổi trẻ: Long Khốt bây giờ là di tích quốc gia/ Đường biên đầy nụ đầy hoa/ Sen ngát thơm “cánh đồng chó ngáp”/ Năm mươi năm đất trời đổi khác/ Trận địa xưa thành phố thành làng/ Thạch đi giữa miền kí ức/ Ngỡ mình đang đón xuân sang. Anh Giải phóng quân trẻ trung, anh lính quân tình nguyện Việt Nam trên đất Chùa Tháp lãng mạn và hào hoa vào sinh ra tử dũng cảm và tự hào Dưới đáy ba lô những huy hiệu huân chương một thời đánh giặc; nay là một Đại tá Cựu chiến binh với biết bao suy tư, trăn trở trước những hi sinh mất mát của đồng đội, của cả một dân tộc. Một người lính – nhà thơ mang nặng ưu tư nghĩ về đất nước con người với một trách nhiệm của những người đang sống mà đồng đội trước lúc hy sinh gửi gắm.
        Trường ca là một thể loại  đặc biệt trong văn chương, có sức truyền tải lớn. Nhà thơ Trần Thế Tuyển đã chọn trường ca để lan tỏa ký ức của mình với bút pháp chân thành, chất chứa nỗi đau mất mát và niềm tự hào của những người từng cầm súng góp sức làm nên hòa bình, vì “kẻ thù buộc ta ôm cây súng”. Và bây giờ: Vẫn y nguyên một thời ký ức/ Cô gái Vĩnh Hưng khăn rằn có biết/ Có phải em là cô giao liên/ Đã gặp anh đêm đầu tiên điều nghiên lộ Bốn/ Có phải em là cô gái nơi chợ lồng Tân An buổi sớm/ Ba mươi tháng Tư trao ánh mắt gieo hồn/ Có phải em là cô gái Khơ me nơi phun sóc, lối mòn/ Điệu múa Áp sa ra đêm tiễn biệt… Viết như vậy là rất nhân văn, rất thơ, rất Việt Nam. Trần Thế Tuyển đã cho thế hệ hôm nay và mai sau đọc, nghe thơ để nhìn thấy cha ông một thời gian khổ, một thời hào hùng bằng những khúc trường ca bi tráng đầy nhân văn và thánh thiện. Những dòng thi ca ấy như là sự khẳng định thế mạnh cảm xúc và tâm huyết của người lính – Nhà thơ Trần Thế Tuyển trên diễn đàn thi ca và trên mọi nẻo đường đất nước hôm nay và mai sau.
                 Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/9/2009