NÔNG SẢN VIỆT NAM CẦN CHỦ ĐỘNG- BAO GIỜ HẾT GIẢI CỨU?

0
215

Để tháo gỡ khó khăn, vừa đảm bảo phòng chống dịch bệnh, nhưng không gây ảnh hưởng quá mức đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở kiến nghị của Bộ Công Thương tại Công văn số 822/BCT-XNK ngày 10/2/2020, Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện số 224/CĐ-TTg ngày 12/2/2020, theo đó cho phép tiếp tục hoạt động xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu phụ Tân Thanh và Cốc Nam (Lạng Sơn) và lối mở Km3+4 phường Hải Yên, Tp.Móng Cái (Quảng Ninh) theo quy định của pháp luật, trên nguyên tắc bảo đảm kiểm soát chặt chẽ, nghiêm ngặt về phòng chống dịch bệnh Covid-19.

Đến nay, lượng hàng hóa nông sản, trái cây được vận chuyển lên các cửa khẩu biên giới phía Bắc để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đang ngày càng nhiều lên. Trước diễn biến phức tạp, khó lường và dự kiến dịch bệnh này có thể còn kéo dài, các lô hàng nông sản và trái cây, mặc dù có thể được làm thủ tục thông quan xuất khẩu, nhưng tiến độ đã và đang chậm hơn rất nhiều so với thời gian trước do phải thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc các biện pháp phòng chống dịch bệnh.

Người tiêu dùng đã quen với cụm từ “giải cứu nông sản”, từ thịt heo, dưa hấu, đến hành tỏi, củ cải, su hào, cà rốt, hành tây. Vừa giải cứu xong bí đỏ, cà chua lại lo giải cứu su hào, củ cải, chưa xong giải cứu dưa hấu lại lo chuyện mía đường… Đã có nhiều hội nghị, hội thảo bàn cách giải quyết đầu ra cho nông sản. Vậy nhưng đến nay, tình trạng “được mùa, mất giá” và những cuộc “giải cứu” vẫn tiếp tục diễn ra.

Đã có nhiều câu hỏi đặt ra là không biết việc “giải cứu” này sẽ diễn ra đến bao giờ và khi nào mới kết thúc? Đành rằng, việc chung tay, sự quan tâm của xã hội đối với nông sản Việt Nam là đáng hoan nghênh, cần phát huy nhưng không thể cứ để tình trạng năm nào nông dân cũng sản xuất ra rồi chờ “giải cứu”. Bởi, về cơ bản, giải cứu chỉ là giải pháp tạm thời và nếu được giải cứu thì nông dân vẫn phải bán nông sản với giá thấp, thua lỗ kéo dài.

Có một thực tế không mấy vui mà chúng ta vẫn phải thừa nhận là từ xưa tới nay, sản xuất nông sản của Việt Nam vẫn ở quy mô nhỏ, chất lượng sản phẩm không đồng đều và sức cạnh tranh không cao. Hơn nữa, ngành nông nghiệp vẫn quen với việc sản xuất ra rồi mới chào hàng, nói cách khác là “bán những những gì chúng ta có thay vì bán những gì thị trường cần”.

Trong khi, “nguyên tắc đơn giản nhất, đó là người mua được yêu cầu người bán, chứ không phải người bán yêu cầu người mua phải mua hàng mà mình có. Thị trường Trung Quốc đã áp đặt tiêu chuẩn thì họ sẽ cứ thế mà thực hiện, chúng ta không thể thay đổi họ. Vì thế, không có cách nào khác, từng người nông dân, từng doanh nghiệp phải hiểu rằng cách trồng trọt bây giờ đã khác trước, muốn bán được hàng cho Trung Quốc thì hàng hóa phải có xuất xứ, chất lượng”, PGS.TS Nguyễn Văn Nam – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương) nói.

Nói đến câu chuyện nông sản Việt, hẳn chúng ta còn nhớ tại “Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2018: Chuyên đề Nông nghiệp – Giải pháp phát triển thương mại cho nông sản”, bà Nguyễn Thị Thành Thực (người có hơn 20 năm làm thương lái sang Trung Quốc) làm nóng Diễn đàn bằng những phát biểu rất tâm huyết, thực tế.

“Muốn bán hàng phải ra ngoài chợ. Nhưng chợ lớn nhất là Trung Quốc thì chúng ta lại chưa chủ động. Nông dân Việt Nam chỉ chờ người Trung Quốc đến mua hàng. Thậm chí thương lái Trung Quốc còn rành rọt hơn cả nông dân bản địa về đặc sản Việt Nam có gì. Nông sản Việt giống như cô gái quê danh giá chỉ chờ người ta đến tán tỉnh”, bà Nguyễn Thị Thành Thực ví von.

Điều này đòi hỏi cần có sự thay đổi trong tư duy và thói quen của cả người tiêu dùng lẫn người sản xuất. Dẫu vậy, dưới góc nhìn chuyên gia thì các nhà quản lý và các doanh nghiệp vẫn chưa chủ động khai thác thị trường Trung Quốc, vẫn phụ thuộc vào việc đặt hàng của đối tác. “Thông tin của chúng ta về Trung Quốc quá kém, dù buôn bán cứ ầm ầm, nhưng nghiên cứu thì không có, rồi đổ lỗi người ta chơi xấu là không ổn”

Tức là, việc tồn đọng một số mặt hàng nông sản trong thời gian qua không hẳn là do không có quy hoạch, mà vấn đề ách tắc là do tổ chức tiêu thụ chưa tốt. Bởi, không chỉ phụ thuộc đầu ra, mà đa phần nguyên liệu, vật tư của ngành nông nghiệp vẫn phải dựa vào thị trường Trung Quốc.

Và ai cũng biết, đầu ra nông sản của Việt Nam vẫn phụ thuộc quá lớn vào thị trường này. Nên việc mở rộng thị trường thông qua những hiệp định thương mại tự do (FTA) mang lại lợi ích hết sức lớn cho các mặt hàng của Việt Nam, trong đó có nông sản.

Thành thử, câu chuyện tìm kiếm, khai thác nhiều thị trường mới để tránh lệ thuộc vào một thị trường lại được đặt ra và nó cần kết quả thực tiễn hơn.

 

THÀNH VIÊN VIẾT BÀI/TƯƠNG TÁC : BT HÀ LÊ