28/01/2022 10:39:01
KÊNH TRUYỀN THÔNG ĐIỆN TỬ THỜINET.VN
Loading...

Bản tin

HỒ SƠ KHOA HỌC CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG. (Viết theo Đề cương hướng dẫn của UNESCO)

Ngày: 

12/01/2022

Lượt xem: 

124

Lê Thành

 
A. Thông tin liên quan đến danh nhân/sự kiện sắp được kỷ niệm
(Information concerning the personality/event to be commemorated)
1. Họ và tên của danh nhân/Tiêu đề của sự kiện
Family name and first name of the personality/Title of the event
- Họ và tên của nhân vật: Hồ Xuân Hương
- Tiêu đề của sự kiện: Kỷ niệm 250 năm năm sinh và tưởng niệm 200 năm
năm mất Hồ Xuân Hương.
2. Năm sinh: 1772 Năm mất: 1822.
Date of the event (Năm của sự kiện): 2022.
3. Các ngày được chọn cho lễ kỷ niệm:
(Date(s) chosen for the celebration)
- Ngày thơ Việt Nam - Ngày 15 tháng 2 năm 2022
(Ngày Thơ Việt Nam là ngày hội tôn vinh thành tựu thơ ca Việt Nam, được tổ
chức vào ngày rằm tháng giêng âm lịch hàng năm)
- Kỷ niệm 250 năm năm sinh (1772 - 2022) và tưởng niệm 200 năm năm mất
(1822 – 2022).
4. Lĩnh vực hoạt động (Field of activity): Văn học và Bình đẳng giới.
5. Mô tả ngắn gọn các tác phẩm chính của danh nhân/sự kiện:
(Brief description of the personality listing his or her major works/of the event)
5.1. Hồ Xuân Hương sinh tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (nay thuộc vùng Tây Hồ, Hà Nội. Cha là Hồ Phi Diễn (1704 - 1786), người làng Quỳnh Đôi (nay gọi là xã), huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An, thi đỗ tam trường, dạy học ở vùng Kinh Bắc. Mẹ họ Hà, quê Hải Dương. Bà là con gái duy nhất trong gia đình đã được học hành và nổi tiếng về văn chương từ lúc thiếu niên.
- Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của Việt Nam, được nhân dân Việt Nam tôn vinh là “Bà chúa thơ Nôm”, là một trong những nữ thi sĩ hàng đầu của châu Á, đồng thời là người đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam.
5.2. Các tác phẩm chính:
+ Thơ Nôm truyền tụng: mảng thơ được viết bằng chữ Nôm (ngôn ngữ Việt).
+ Lưu Hương Ký: gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ Nôm. Là tập hợp về tâm sự và những mối tình của mình, xướng hoạ với bạn bè.
+ Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập: gồm 9 bài thơ chữ Hán, thể hiện tình yêu quê hương và tự sự.

2

+ Đồ Sơn bát vịnh: gồm 8 bài thơ chữ Hán, vịnh cảnh Đồ Sơn.
+ Đề Vịnh Hạ Long: gồm 5 bài thơ chữ Hán, vịnh cảnh Hạ Long.
- Các tác phẩm chính làm nên tên tuổi Hồ Xuân Hương ở cả trong nước và quốc tế là các bài thơ Nôm được nhân dân nâng niu, gìn giữ đã được các nhà nghiên cứu sưu tập và công bố gọi là “Thơ Nôm truyền tụng” (theo học giả Đào Thái Tôn gồm 139 bài; theo GS. Nhan Bảo (Trung Quốc) trong sách Phát hiện mới về Hồ Xuân Hương, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, gồm hơn 200 bài).
- Các tác phẩm thơ của Hồ Xuân Hương đã được đưa vào sách giáo khoa để học sinh học tập ở tất cả các cấp học từ Tiểu học, THCS đến THPT như bài “Tự tình”, “Bánh trôi nước”... Nhiều luận văn, luận án cũng đã nghiên cứu về thơ Hồ Xuân Hương phục vụ việc học tập, giảng dạy trong các trường đại học và sau đại học.
5.3. Những giá trị về tư tưởng và nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương:
5.3.1. Thơ Hồ Xuân Hương thể hiện một tư tưởng nhân văn/ nhân bản mang tính nhân loại sâu sắc với hạt nhân là đấu tranh đòi quyền sống cho con người, cho nữ quyền
+ Đấu tranh đòi quyền sống cho con người – con người với tư cách là những thực thể tồn tại trên mặt đất với mọi nhu cầu trần thế, nhu cầu hiện sinh chính đáng.
+ Đấu tranh đòi nữ quyền (quyền bình đẳng; quyền được công khai hiện diện trong cuộc sống với tất cả những gì mà tạo hóa ban cho; quyền được yêu thương, hạnh phúc).
+ Phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến - Nho giáo với những tệ lậu, ràng buộc con người: sự bất bình đẳng giới nam/ nữ (trai “năm thê bảy thiếp”, gái phải chịu “kiếp chồng chung”); những lề thói, hủ tục cản trở sự tiến bộ.
+ Phê phán không khoan nhượng tệ tham nhũng, giả dối, lọc lừa của mọi hạng người vô liêm sỉ trong xã hội từ quan lại, những người có quyền thế cho đến các đối tượng khác.
5.3.2. Thơ Hồ Xuân Hương thể hiện một quan niệm văn hóa và thẩm mỹ độc đáo chưa từng có về các nhu cầu cơ bản của con người như tính dục, đời sống bản năng, trần tục
- Trong thơ Hồ Xuân Hương có cả một thế giới biểu tượng phong phú, đa dạng, độc đáo về thân xác và tính dục, về cái trần tục của đời sống bản thể con người (tình yêu, sự giao hoan, các bộ phận nhạy cảm,…/ trong các bài Đánh đu, Dệt cửi, Thiếu nữ ngủ ngày, Bánh trôi nước, Quả mít, Cái quạt, v.v…).

3
- Với cái nhìn thẩm mỹ độc đáo “tục mà thanh - thanh mà tục” thể hiện qua nhiều bài thơ tinh tế, giàu tính nghệ thuật, Hồ Xuân Hương đã nâng tất cả các biểu tượng về tính dục, về cái trần tục… thành văn hóa, mỹ học về cái tục, tạo bước tiến mới cho văn hóa, văn học Việt Nam, đóng góp xuất sắc cho văn hóa, văn học thế giới.
5.3.3. Thơ Hồ Xuân Hương ca ngợi nồng nhiệt sự sống, sự lạc quan, yêu đời
- Tất cả những gì được nói đến trong thơ Hồ Xuân Hương đều là biểu hiện của sự sống, sự vận động, sự lạc quan, yêu đời.
- Thơ Hồ Xuân Hương không chấp nhận sự bằng phẳng, nhạt nhẽo, vô nghĩa.
5.3.4. Thơ Hồ Xuân Hương nhiều bài đạt tầm kiệt tác, là một đỉnh cao của thơ Nôm (tiếng Việt), là một hiện tượng hiếm có trong văn học thế giới
- Hồ Xuân Hương thực sự là một phong cách lớn, giàu cá tính sáng tạo.
- Hồ Xuân Hương sử dụng linh hoạt nhiều bút pháp nghệ thuật khác nhau, đặc biệt hai bút pháp trữ tình và trào lộng được vận dụng với trình độ bậc thầy.
- Các thể thơ thất ngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt qua ngòi bút của Hồ Xuân Hương được vận dụng sáng tạo, được làm mới trên cả ba phương diện: chức năng, nội dung và thi pháp thể loại.
- Ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ đời sống, tuy giàu màu sắc bình dân nhưng hết sức đậm dấu ấn cá tính, cá nhân. Đấy là một thứ ngôn ngữ thơ giàu tính năng sản, giàu tính tạo hình và biểu cảm, giàu chất thơ, tính thơ, nhất là hệ thống từ láy…
“Thơ của Hồ Xuân Hương thật là tinh quái, những câu thơ hay đọc lên đến ghê người. Người ta thường có câu “Thi trung hữu hoạ”. Nghĩa là trong thơ có vẽ. Nhưng thơ Hồ Xuân Hương thì lại là: “Thi Trung hữu quỷ”. Nghĩa là trong thơ có ma! Song mà nhận ra thời tục!” (Tản Đà)
5.3.5. Thơ Hồ Xuân Hương có sức lan toả sâu rộng và tính cộng hưởng mạnh mẽ, tạo nên hiện tượng “đồng sáng tạo” hiếm có
- Nếu như Nguyễn Du với Truyện Kiều từng tạo nên hiện tượng “Bói Kiều”, Tập Kiều”, “Lẩy Kiều”, “Vịnh Kiều”, “Đố Kiều”, “Ngâm Kiều”,... thì Hồ Xuân với thơ nôm truyền tụng, không ngừng tạo nên hiện tượng parody/
nhại hết sức độc đáo.
- Nhiều bài thơ của bà được người đương thời và người đời sau một mặt nhại theo để tạo nên sản phẩm mới, mặt khác mượn nguyên dạng để “thay lời muốn nói” theo nhiều hoàn cảnh, tình huống khác nhau.

4
- Việc parody/ nhại hay sáng tác theo mẫu thơ Hồ Xuân Hương không làm mất đi một Hồ Xuân Hương cá nhân – cá tính, mà ngược lại, càng nâng tầm nhà thơ lên vị trí là người khai sáng cho một loại hình thơ hấp dẫn, gắn với đời sống và có sức sống trường tồn với thời gian.
6. Mô tả (các) cách mà danh nhân/sự kiện này có tác động thực sự trong khu vực và/hoặc trên toàn thế giới:
(Describe the way(s) in which this personality/event has had a genuine regional and/or worldwide impact)
6.1. Hồ Xuân Hương với tư cách một nhà đấu tranh bình đẳng giới Ở thế kỷ XVIII, Hồ Xuân Hương đã trở thành một người đi trước thời đại mình, dùng thi tài một cách thông minh để chế diễu một giai cấp đạo đức giả, để vạch trần những vô lý của một xã hội phong kiến, táo bạo chống lại những tập tục phi lý đã cấm đoán và ràng buộc người phụ nữ Việt Nam về vật chất cũng như tinh thần. Trước một xã hội đầy những tư tưởng và nề nếp trọng nam khinh nữ do tư tưởng Nho học dựng lên, trong đó người nữ đã phải chịu rất nhiều thiệt thòi, Hồ Xuân Hương đã khôn khéo dùng văn chương như một thứ vũ khí để chống lại những trật tự áp chế đó. Bà đấu tranh công khai, gay gắt chỉ trích những tư tưởng, lề thói, hủ tục tước đoạt quyền sống của phụ nữ. Bà ngang nhiên chống lại thành kiến xã hội ruồng bỏ người phụ nữ chửa hoang: “Quản bao miệng thế lời chênh lệch/ Những kẻ không mà có mới ngoan”; chống đối kịch liệt chế độ đa thê của xã hội đương thời: “Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng/ Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”. Trật tự xã hội mới mà bà mong muốn là một trật tự trong đó phụ nữ nói riêng và mọi người nói chung phải được bình đẳng, không còn phải chịu cảnh “cầm bằng làm mướn, mướn không công” nữa. Trước những trói buộc của xã hội, nhiều lúc bà cũng mơ được thoát ra khỏi các tập tục, các lễ giáo và các ý thức hệ phong kiến khắc nghiệt để làm nên sự nghiệp lẫy lừng hơn: “Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu” và có lúc bà cũng muốn “Giơ tay với thử trời cao thấp/ Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài”. Tiếng nói thơ văn của Hồ Xuân Hương, đặc biệt là tiếng nói đấu tranh cho nữ quyền, cho bình đẳng nam - nữ đã vượt không gian và thời gian để đến hôm nay vẫn mang giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc. 
- Nhà thơ Pháp Jean RISTAT khi viết lời tựa cho cuốn sách “Anthologie des poèmes de Hồ Xuân Hương” (Tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương - Tiếng Pháp, Nguyễn Minh Thanh dịch, Paris, 1987), có đoạn:
“... Cái xuân tình của Hồ Xuân Hương thật nổi tiếng. Người ta đã gán cho nó nhiều ý, thậm chí cả những ý sàm sỡ thô tục nhất. Tuy nhiên, người ta sẽ không thể không nhận thấy, trong những bài thơ tập hợp ở đây một thái độ táo bạo vẫn còn

5
khiến chúng ta ngưỡng mộ. Trong cuộc đấu tranh của phụ nữ suốt nhiều thế kỷ, sự nghiệp của Hồ Xuân Hương là ngọn hải đăng. Chỉ riêng tính chất đa tình của bà không thôi thì chưa đủ để thu hút sự chú ý của chúng ta. Nếu chi có vậy thì nhiều lắm bà cũng chì dừng một chỗ ở bên cạnh Louise Labe chẳng hạn. Thế nhưng thiên tài của bà còn ở chỗ, dám đấu tranh công khai chống lại sự chính thống của đạo Khổng, bọn quan lại, tệ tham nhũng, những ông đồ gàn, thói giả nhân giả nghĩa trong xã hội. Nói tóm lại: bà chống lại trật tự đựợc thiết định. Thậm chí bà đi đến chỗ đòi quyền tự do luyến ái cho phụ nữ. Chế độ đa thê không thoát khỏi sự công kích của bà và bà nói lên những thiệt thòi lép vế của cảnh lẽ mọn. Bà đã đứng lên chống lại sự không bình đẳng giữa nam và nữ, và bênh vực những cô gái không chồng mà chửa. Hồ Xuân Hương là người cùng thời với chúng ta. Bà hết sức hiện đại và cuộc đấu tranh của bà là cuộc đấu tranh của chúng ta...”
- John Balaban, người đã dịch thơ bà ra Anh ngữ, trong một bài viết về Hồ Xuân Hương đăng trên The American Review đã nhận xét là những bài thơ chống đối phụ quyền của Hồ Xuân Hương đối với người phương Tây cuối thế kỷ 20 có vẻ rất bình thường nhưng trong thời đại của bà là chuyện làm nguy hiểm và đã gây nên nhiều kích động lớn. (John Balaban, “About Ho Xuan Huong”, The American Poetry Review, Sept/Oct 2000, vol.29, no.5).
6.2. Tính quốc tế của Thơ Hồ Xuân Hương
Thơ Hồ Xuân Hương đã được dịch ra 12 ngoại ngữ (Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ba Lan, tiếng Bungari, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Phần Lan, tiếng Rumania, tiếng Séc, tiếng Slovakia, tiếng Tây Ban Nha, Tiếng Trung Quốc). Riêng tiếng Pháp có 9 bản dịch và tiếng Anh có 9 bản dịch.
- Thơ Hồ Xuân Hương Đã được đưa vào “Từ điển tác phẩm của mọi thời đại và mọi xứ sở” (có tiếng Pháp nguyên văn) xuất bản ở Paris năm 1962, quyển 4, tr 738. (Dictionnaire des oeuvres de tous les temps et de tous les pays- Société d’édition de dictionnaires et encyclopédies, Laffont-Bompiani, SEDE, Paris 1962).
XUÂN HƯƠNG THI TẬP. Những bài thơ của Hồ Xuân Hương, một nữ sĩ và nhà thơ (cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19), thuộc một thể loại riêng. Những bài thơ này thường có chủ đề thường chỉ là từ những vật thể được đem hình tượng hóa để diễn đạt tình cảm nội tâm của tác giả. Dưới hình thức đùa cợt, giễu nhại một cách kín đáo, là dấu ấn của những rung động tình cảm và rất nhiều yếu tố gọi mời và khêu gợi. Vào thời điểm mà tất cả các tác phẩm văn học đều tập trung vào đạo đức và bảo vệ lễ giáo, thì tác phẩm của Hồ Xuân Hương, đặc biệt là vì đó là sáng tạo của một người phụ nữ, gây kinh ngạc với tính cách tự do và vượt ra ngoài chính thống.
Thơ của bà là tiếng cười tinh quái, nghịch ngợm giữa đám người nghiêm túc.

6
- Henri Lopes (sinh 1937) là một nhà văn, chính trị gia và nhà ngoại giao người Congo. Ông nhận giải thưởng văn học lớn Châu Phi Đen năm 1972, và ông từng là Thủ tướng Cộng hòa Congo từ năm 1973 đến năm 1975. Từ năm 1981, ông làm việc cho UNESCO, nơi ông giữ chức vụ Trợ lý Tổng giám đốc UNESCO phụ trách về Văn hóa và Đối ngoại từ năm 1982 đến 1998. Năm 1987, ông đã viết lời tựa cho cuốn sách “Anthologie des poèmes de Hồ Xuân Hương” (Tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương - Tiếng Pháp ), Nguyễn Minh Thanh dịch, Paris, 1987).
- Cuối năm 2000, tập thơ Hương Mùa Xuân của GS John Balaban dịch, (Spring Essence: The poetry of Hồ Xuân Hương - NXB Copper Canyon Press, Mỹ) tổng cộng 49 bài bằng ba thứ chữ Nôm - Việt - Anh, được xuất bản. Tập thơ Hương Mùa Xuân: Thơ Hồ Xuân Hương đã bán được trên 20.000 bản, và như tờ New York Times bình luận thì nó “trở thành một hiện tượng trong đời sống văn học Mỹ”.
- Bài diễn văn của Tổng thống Mỹ Clinton khi sang thăm Việt Nam, tại cuộc chiêu đãi trọng thể tối 17.11.2000 do Chủ tịch Nước Trần Đức Lương chủ trì đã lấy cuốn sách “Spring Essence: The poetry of Hồ Xuân Hương” của  GS John Balaban dịch, làm ví dụ về sự giao lưu văn hoá giữa hai nước Việt Nam và Mỹ:
“Các bài thơ 200 năm tuổi của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đang được xuất bản ở Mỹ - bằng tiếng Anh, tiếng Việt và cả chữ Nôm nguyên bản, là lần đầu tiên mà một bản thảo cổ của Việt Nam được đưa lên in ấn”.
6.3. Một số đánh giá của các học giả quốc tế viết lời tựa và dịch thơ Hồ Xuân Hương:
+ La Trường Sơn (Trung Quốc):
Ông có bài thơ “Vì sao tôi dịch thơ Hồ Xuân Hương” đăng trong cuốn “Tuyển tập thơ Hán - Nôm Hồ Xuân Hương” (NXB Thế Giới, 2001), thể hiện cái nhìn của ông về Hồ Xuân Hương:
“Hồ Xuân Hương / Có mấy chục bài thơ Nôm truyền tụng/ Dịch thơ bà / Tôi đã thay nhiều bài rất hay / Nhưng Hồ Xuân Hương / Người đó là ai... ... Xuân Diệu tôn Bà / Là “Bà chúa thơ Nôm ” / Lời tôn đó/ Người Việt Nam / Ai cũng nhớ rõ / Khi nhắc tới thơ Bà / Họ đều tôn Bà là Thơ thánh Và lấy làm kiêu hãnh tự hào!/ Nhưng tôi cũng biết / Ngay ở Việt Nam/ Cũng có người coi Bà / Là một Thiên tài hiếu dâm / Nhưng vẫn coi thơ Bà / Tuy dâm mà không tục !/ Tôi, một độc giả

7
Trung Quốc / Không dám nhiều lời / Trong cuộc tranh luận này /Không dám làm trọng tài / Phán cho ai sai là đúng /Tôi chi muốn nói/ Vì sao tôi dịch thơ Bà/ với một tấm lòng / Sùng bái tụng ca!....”
+ Eva Antoshchenko Muckova (Slovakia):
Là dịch giả thơ Hồ Xuân Hương, cuốn “Hương vị mùa xuân” Jarná vôňa”.
Nxb Petrus, Batislava, 2010, Nxb Trẻ, 2010. Trong bài “Giới thiệu thơ Hồ Xuân Hương tại Slovakia”.
Bà chia sẻ: “ ... Ngày 24 tháng 5 năm 2011, tại phòng trưng bày nghệ thuật, ở thủ đô Bratislava, Cộng hòa Slovakia, Nhà xuất bản Petrus phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Slovakia và ông Hồ Huy, Chủ tịch Tập đoàn Mai Linh Việt Nam và Tổng Lãnh sự Danh dự CH Slovakia tại Việt Nam đã tổ chức giới thiệu tập thơ nôm của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương được dịch ra tiếng Slovakia.
Tập thơ được tôi, Eva Antoshchenko Muckova, nhà Việt Nam học Slovakia chuyển ngữ. Tới dự buổi ra mắt tập thơ có bà Natalia Cehlarikova - Quốc vụ khanh Bộ Văn hóa Slovakia, đại diện Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục, các học giả nghiên cứu về Việt Nam, người yêu nghệ thuật và đông đảo bà con kiều bào đang sinh sống và làm ăn tại Slovakia.
Tôi, với tư cách là dịch giả, và một số chuyên gia văn học Slovakia đã bình luận về ý nghĩa của các bài thơ, tính nhân văn và triết lý của nhà thơ Hồ Xuân Hương và hy vọng tập thơ sẽ góp phần giúp độc giả Slovakia hiểu rõ hơn bản sắc văn hóa Việt Nam.
Phát biểu tại buổi lễ, tôi cố gắng giải thích với các bạn Slovakia, tại sao tôi đã chọn tập thơ Hồ Xuân Hương để dịch ra tiếng Slovakia. Trong các câu thơ với âm bội gợi tình, đầy chế nhạo và châm biếm, hay trong những bài thơ trữ tình, nhà thơ đã để lại một kho báu văn học mà lên thiên đường văn học cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Một số nhà phê bình văn học Việt Nam cho rằng, câu thơ của Hồ Xuân Hương không dịch được sang thứ tiếng khác, không truyền đạt được đầy đủ các nghĩa bóng. Đối với mỗi nhà Việt Nam học, mà là chuyên gia về văn học Việt Nam, dịch thuật một kiệt tác văn học như thơ Hồ Xuân Hương là một vinh dự lớn. Vì thế cho nên, khi ông Hồ Huy thay mặt họ Hồ đã đề nghị tôi dịch thơ Hồ Xuân Hương sang tiếng Slovakia, tôi hăng hái đồng ý ngay. Sau hai năm làm việc cần cù, một bản dịch thơ ngoại ngữ mới của trước tác Bà Chúa thơ Nôm, có tựa đề “Hương vị mùa xuân” („Jarná vôňa”), đã ra mắt độc giả ở Slovakia...”
+ Henri Lopes - Trợ lý Tổng giám đốc UNESCO phụ trách về Văn hóa và Đối ngoại:

8
Năm 1987 ông đã viết lời tựa cho cuốn sách “Anthologie des poèmes de Hồ Xuân Hương” (Tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương - Tiếng Pháp, Nguyễn Minh Thanh dịch, Paris, 1987) có đoạn:
“... Ngay trang đầu tiên, âm nhạc dẫn dắt tôi. Chúng ta thấy một người phụ nữ diễn đạt qua thơ những gì người đàn ông không biết thể hiện. Chúng ta muốn trở thành người tình của người phụ nữ đang nói với chúng ta rằng “cơ thể cô ấy không có ý định già đi. Không cần phải xấu hổ, cô ấy thừa nhận dòng chảy tinh tế và nhạy cảm thần thánh phát sinh từ một số vùng nhạy cảm từ đùi đến cổ cô ấy. Và sức nóng này lan đến chúng ta. Một đằng là tình yêu mạnh mẽ, nhưng đằng khác còn là biết nói lên tình yều đó. Một mặt nữa, quan trọng hơn, là biết làm cách nào để được yêu. Một thế kỉ có quá nhiều thứ để khám phá, rất nhiều thứ để xem, rất nhiều thứ để nếm trải về tình dục và thế kỉ đó bị mê hoặc bởi sự gợi tình.
Tuy nhiên, trong những câu chuyện ở đây, có một cơn gió mùa thoảng qua mang theo giọng nói của một người phụ nữ
Những tiếng thở dài của cô ấy không phải là những tiếng rên của một sinh linh trong hố sâu của sự đồi trụy, mà là những bài hát cháy bỏng của nàng công chúa Iseult bên cửa sổ nhà nàng. Là nhà thơ hay là nhạc sĩ, tôi không biết nữa, cô ấy đã làm biến đổi vĩnh cửu vẻ đẹp tiếng kêu của linh hồn khi thoát ra khỏi bí mật của màn đêm hay nơi kín đáo. Từ một vị quan nho hay từ nữ thần pantheon của châu Á nào cô đã học được nghệ thuật diễn đạt đó, bằng kết hợp của sức mạnh uy nghi và sự khiêm nhường, với lễ hội rực lửa của cơ thể. Hãy ẩn lánh, nhưng đừng xấu hổ với yêu đương mà bạn có. Nếu có một lời nhắn nhủ, thì đây là thông điệp mà Hồ Xuân Hương muốn gửi gắm...”
+ Hữu Ngọc và nữ văn sĩ Pháp Franoise Corrèze:
Mở đầu cuốn “Hồ Xuân Hương ou le voile déchiré”. Nxb Fleuve Rouge, Hanoi 1979, của tác giả Hữu Ngọc và nữ văn sĩ Pháp Françoise Correze là những
dòng: Tên họ Hồ Xuân Hương nối lên như một bông pháo hoa trong nên văn học cổ điển Việt Nam mà bà là “đứa con kinh khủng”. Hồ Xuân Hương thật độc đáo.
Cái độc đáo ấy - với tư cách là phụ nữ, bà đòi hỏi thế chế phong kiến ngặt nghèo, cuôc sống tình dục cho phụ nữ. Cái độc đáo ấy - với tư cách là nhà văn, bà công kích quyết liệt những quy tắc và thói quen vẫn ràng buộc văn học Việt Nam với những quan niệm Trung Quốc 
+ M. Durand (Pháp):
Tác giả cuốn “Ľoeuvre de la poé tesse vietnamiene Hồ Xuân Hương”.1968, trong lời tựa, có đoạn:
“... Bà thuộc vào số những người phụ nữ khó lấy chồng vì không đẹp lại còn nghèo nữa. Và một sự kiện quan trọng, bà bị ám ảnh bởi cái ham muốn dâm dục

9
Cũng như bởi một con bệnh thật sự, bệnh hay ám ảnh sẽ gợi hứng cho hầu hết những bài thơ của bà. Nhưng sự thông minh, thị hiếu văn học. tính tình nghịch ngợm của Xuân Hương cho phép bà thực hiện những sáng tác lấp lửng hai mặt khó đến mức chúng có vẻ ngây thơ với người đọc không thành thạo. Còn đối với người đọc thành thạo thì chúng là những ví dụ về sự phóng túng và ít nhiều tục tĩu. Cái mới mà Hồ Xuân Hương đóng góp cho văn học ViệT Nam, là táo tợn đến sửng sốt vì đó lại là văn chương do phụ nữ viết, đó là sự phá vỡ khuôn khổ những cấm đoán văn học và đạo đức. Bà dám nói đến những vấn đề tính dục. Bà biết làm điều đó khéo léo, và bao giờ cũng bóng gió, đến mức người ta không thể kết án bà được.
Sư táo tợn này là một tuyên bố, Xuân Hương hoặc được thừa nhận, hoặc bị phê phán...”
+ Constantin Lupeanu (Rumania) - Chủ tịch Hội Hữu nghị Rumani - Việt Nam
Dịch giả cuốn “Xuan Huong Poeme”, Mira & Constantin Lupeanu, Nxb Qilinul din Jad, 2006, trong lời tựa, có đoạn:
“... Hồ Xuân Hương viết thơ rất thẳng thắn, bà chọn cách thể hiện bằng loại thơ cổ điển khổ 8 câu,mỗi câu có 7 từ. Tiếng Việt là một thứ tiếng có giai điệu (6 kiểu tôn !) , vì thế nên nó giống như là âm nhạc, với những vần dễ đặt được nhờ những từ đồng âm. Giọng thơ của nhà thơ rất giản dị, diễn đạt rõ ràng, nhưng đa số là thể hiện hai ý. Sự mơ hồ này cho phép bà diễn tả cuộc sống thầm kín của người phụ nữ, những tâm tư thầm kín nhất, tình yêu tự do, mưu cầu hạnh phúc, kể cả sự khích lệ xác thịt, dục vọng. Thơ của bà sau này đã trở thành nổi tiếng trên thế giới, đặc trưng của văn chương và nghệ thuật.Một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là một sự mù quáng về xác thịt, sự tưởng tượng bậy bạ, nhưng chúng tôi lại nghĩ rằng không phải những điều đó làm cho bà nổi tiếng,mà chính là do sự tiếp cận táo bạo, cởi mở tới mức xé rào những chuẩn mực đạo đức trong ngôn ngữ tiếng Việt. Sống một mình, không bị ràng buộc về những trách nhiệm của gia đình, Hương Vị Mùa Xuân viết về mọi chủ đề, không hề ngần ngại. Bà phê phán tình trạng xã hội thời đó,với một cách thể hiện thông minh và hấp dẫn, do đó bà đã đạt được sự mến mộ của đông đảo người dân. Khi diễn tả tình yêu, nhà thơ thể hiện rất bình tĩnh, nhẹ nhàng và hiện thực, như là bà đang ở ngoài cuộc và cố đặt mình vào vai của một cặp đang yêu nhau. Nhà thơ đi vào và giải quyết đề tài này một cách dứt khoát hơn các nhà thơ khác cùng thời với bà, và nhà văn duy nhất được so sánh với bà là nhà văn Rabelais (François Rabelais (khoảng 1494 - 1553) là một nhà văn Pháp thời Phục hưng, bác sĩ và là một người theo chủ nghĩa nhân văn...).
7. Trang web được lập ra để tổ chức sự kiện này: nghean.gov.vn
B. Đồng bảo trợ (hai quốc gia thành viên hoặc nhóm khu vực)

10

- ....
- ….
C. Lễ kỷ niệm được tổ chức
250 năm năm sinh x
200 năm năm mất x
D. Thông tin về các hoạt động được tổ chức nhân dịp bởi Việt Nam hoặc quốc gia liên quan...
Địa điểm Loại hình hoạt động

Tổ chức chịu trách nhiệm

Khung giờ Chi phí ước tính
(US $)
Quỹ Việt Nam Hội thảo khoa học quốc tế về Hồ Xuân Hương

Tỉnh Nghệ An Rằm tháng Giêng

25.000
USD

Việt Nam Lễ kỷ niệm 250 năm năm sinh và 200 năm năm mất Nữ sĩ Hồ Xuân Hương

Tỉnh Nghệ An xxx

Paris Triển lãm, giới thiệu thơ HXH

Tỉnh Nghệ An xxx

E. Liên kết với UNESCO
1. Hãy cho biết lĩnh vực được UNESCO công nhận có liên quan đến lễ kỷ niệm này:
Giáo dục Khoa học tự nhiên Liên kết đến:
Văn hóa xx Ưu tiên về bình đẳng giới: X
Khoa học xã hội và nhân văn x Ưu tiên Châu Phi: Truyền thông Các dự án liên ngành
2. Giải thích sự đóng góp mà một lễ kỷ niệm như vậy có thể thực hiện hiệu quả đạt được các mục tiêu của các nước thành viên trong các lĩnh vực có thẩm quyền của UNESCO và liên quan đến các ưu tiên chính được đặt ra trong Chiến lược Trung hạn (C/4) và Chương trình và Ngân sách (C/5) được phê duyệt bởi Hội nghị chung:

11
Lễ kỷ niệm sẽ nhấn mạnh được vai trò của văn hóa và sự bình đẳng giới. Lễ kỷ niệm sẽ đóng góp cho sự phát triển văn hóa, sự bình đẳng giới ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á.
3. Hình thức tham gia được yêu cầu từ UNESCO:
- Tổ chức meeting tại trụ sở UNESCO.
- Triển lãm, giới thiệu thơ Hồ Xuân Hương tại trụ sở UNESCO.
4. Mô tả (các) cách mà kỷ niệm này phù hợp với và tăng cường mục tiêu và nhiệm vụ của UNESCO
Lễ kỷ niệm sẽ đóng góp cho mục tiêu của phát triển văn hóa và sự ủng hộ cho quyền tự do, bình đẳng về giới cho tất cả mọi người. Đây cũng là cơ hội để có được một cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa, giáo dục trong việc làm thay đổi nhận thức của con người, cổ vũ tinh thần đấu tranh vì nữ quyền, vì bình đẳng giới và các quyền sống của con người trên toàn thế giới.
F. Các thông tin khác./.

TS. Phan Tử Phùng, Phó Ban vận động UNESCO - Vinh danh Hồ Xuân Hương

THEO ĐS GIÁO DỤC NGÀY NAY

Tin Liên Quan