MIỀN DI SẢN

Trần Mỹ Quỳnh

Tinh mơ. Cơn mưa rào vừa dứt. Tôi đạp xe qua những con đường làng còn thơm mùi đất mới. Hàng cau trước ngõ vẫn nhỏ từng giọt nước xuống mặt sân. Phía đông, vầng mây hồng đang nhích dần lên khỏi biển. Đền Mẫu Quần Anh – hay người dân vẫn quen gọi là Đền Chánh – hiện ra trong màn sương mỏng. Khói hương quyện cùng hơi nước sau mưa, bảng lảng như sợi chỉ nối hôm nay với những lớp người đã khuất.

Đứng trước ngôi đền, tôi không vội thắp hương. Tôi để lòng mình đi ngược dòng thời gian.

Hơn năm thế kỷ trước, nơi đây chưa có xóm làng, chưa có mái đình, cũng chưa có tiếng chuông chùa vọng chiều. Chỉ có bãi bồi Lạch Lác mênh mang, lau sậy ngập gió và những con nước thủy triều ngày đêm bào xói. Đất chưa thành đất. Người chưa thành làng.

Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, triều Lê thực hiện chủ trương khai hoang, mở đất, ổn định đời sống nhân dân. Theo sử liệu địa phương, năm 1485, Tứ tổ Quần Anh gồm các cụ Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia và Phạm Cập từ vùng Bách Tính, Tương Đông (nay thuộc Cổ Lễ) đã tìm về bãi bồi ven biển này, mở đầu công cuộc khai khẩn. Sau đó, chín dòng họ Lại, Nguyễn, Lê, Bùi, Đỗ, Phan, Đoàn, Trần và Vũ lần lượt quy tụ, cùng đắp đê, quai vạc, lấn biển, dựng nên một vùng quê mới.

Mỗi lần đọc hai câu:

“Tứ Tổ khai cơ lập Cồn Ấp,

Cửu tộc bao đê dựng xóm làng.”

Tôi luôn hình dung phía sau từng con chữ là biết bao giọt mồ hôi mặn hơn vị biển.

Đắp một con đê đâu chỉ cần đất. Phải có niềm tin. Khai một thửa ruộng đâu chỉ cần sức người. Phải có khát vọng được ở lại. Cha ông đã gửi cả cuộc đời mình vào từng nhát cuốc, từng gánh đất, từng đoạn đê để giữ lấy mảnh phù sa còn non trẻ. Nhờ vậy mà bãi bồi năm nào dần trở thành ruộng lúa, thành nương dâu, thành xóm nhỏ có tiếng trẻ ê a học chữ, có khói bếp chiều bay lên sau rặng tre.

Một số hình ảnh Đền Mẫu Quần Anh.

Người Hải Anh vì thế mang trong mình cốt cách của người đi mở đất. Chịu thương, chịu khó. Gặp sóng không lùi. Gặp bão không nản. Họ hiểu rằng mỗi tấc đất có được đều đổi bằng biết bao tháng năm chống chọi với thiên nhiên. Chính sự nhẫn nại ấy đã làm nên bản lĩnh của một miền quê ven biển.

Lịch sử không chỉ nằm trong những trang sách. Lịch sử còn nằm trong dáng đê uốn cong theo bờ biển, trong con đường 37B hôm nay vốn là dấu tích tuyến đê Hồng Đức năm xưa, trong mái nhà cổ, trong tiếng chuông nhà thờ, tiếng mõ chùa và cả trong những câu chuyện các bậc cao niên vẫn kể mỗi chiều.

Đền Mẫu Quần Anh ra đời giữa mạch nguồn ấy.

Có người đến đền để cầu bình an. Có người tìm về để nhớ cội nguồn. Còn tôi, đứng trước ban thờ nghi ngút khói hương, lại nghĩ nhiều đến hình tượng người Mẹ.

Mẹ của một gia đình. Mẹ của một dòng họ. Mẹ của quê hương. Và rộng hơn là Mẹ của đất nước.

Bất chợt, câu thơ cũ hiện về:

“Mẹ ngồi bậu cửa đợi con,

Bỗng nhiên hóa đá nước non mãi thờ.”

Bao bà mẹ Việt Nam đã lặng lẽ đi qua chiến tranh như thế. Không cần tượng đài, không cần danh vị, chỉ cần một nén hương thành kính của cháu con cũng đủ ấm lòng người đã khuất. Tôi chợt nghĩ, nếu một ngày nào đó nơi đây có thêm không gian tưởng niệm các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các mẹ liệt sĩ của quê hương thì mạch nguồn tri ân ấy sẽ càng thêm trọn vẹn.

Người ta kể ngôi đền được dựng lên từ sự phát tâm của bá tánh gần xa, với sự vận động của một người con quê Quần Anh từng giữ trọng trách Thượng thư. Tôi không nghĩ nhiều đến chức tước. Tôi chỉ nghĩ rằng, khi thành đạt mà vẫn đau đáu hướng về quê hương thì đó đã là một phúc lớn của làng.

Người xưa dạy:

“ Báo chết để da, người ta chết để tiếng.”

Tiếng ấy không phải là lời ca tụng nhất thời. Đó là điều còn lại sau năm tháng, khi công trình vẫn đứng đó, khói hương vẫn tỏa đó và lớp lớp người sau vẫn nhắc đến bằng lòng biết ơn.

Đứng dưới vòm cầu vồng bảy sắc sau cơn mưa, tôi bỗng mỉm cười. Hóa ra, cầu vồng chỉ xuất hiện khi mưa đã qua. Có lẽ quê hương nào cũng vậy. Sau bao gian khó, điều còn lại không chỉ là những công trình bề thế mà còn là ký ức, là nghĩa tình và sự tiếp nối.

Trên vùng đất từng được Tứ tổ khai sáng, Cửu tộc dựng xây, hôm nay còn hiện diện nhiều di sản quý như Cầu ngói chùa Lương, Nhà thờ Thánh Phêrô Quần Phương, chùa Xã Hạ, Nhà thờ đổ Hải Lý, chùa Tùng Lâm, Nam Anh… Mỗi công trình là một lát cắt văn hóa, góp phần tạo nên bản sắc của miền quê nơi đầu sóng.

Đạp xe trở về, con đường làng đã khô sau nắng sớm. Tiếng gà gáy, tiếng trẻ đến trường, tiếng người gọi nhau ngoài đồng… tất cả bình dị đến lạ.

Tôi hiểu, di sản không chỉ là những gì được xếp hạng hay ghi vào hồ sơ. Di sản còn là lòng biết ơn đối với người mở đất, là đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, là sự gìn giữ những giá trị cha ông để lại bằng chính cách sống của hôm nay. Và tôi tin, mai này, khi nhắc đến Hải Anh, người ta sẽ không chỉ nhớ một miền quê ven biển từng lấn biển, quai đê mà còn nhớ đến một miền di sản – nơi lịch sử được viết bằng mồ hôi của tiền nhân, được gìn giữ bằng tấm lòng của hậu thế và được truyền lại bằng những câu chuyện không bao giờ cũ.

Tháng 7- 2026

                                                                                                                TMQ

 

guest
0 BÌNH LUẬN
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
Tất cả