Tủ sách tâm lý học giáo dục của nhóm Cánh Buồm

0
28

Kể từ khi ra đời năm 2009, bên cạnh việc công bố dần những cuốn sách giáo khoa tiểu học hàm chứa định hướng Tâm lý học Giáo dục, nhóm Cánh Buồm còn xác nhận mối quan tâm quán xuyến đến cái lý thuyết làm nền cho các hoạt động của mình bằng việc công bố ba cuốn “Cẩm nang sư phạm” mới đây và chuẩn bị công bố vào năm 2014 những tác phẩm đầu tiên trong Tủ sách Tâm lý học do nhóm tổ chức dịch từ hai năm nay – đó là ba tác phẩm của Jean Piaget (Sự hình thành trí khôn ở trẻ em, Sự tạo dựng cái thực ở trẻ em, Sự tạo thành biểu tượng ở trẻ em) và ba tác phẩm của Howard Gardner (tái bản Cơ cấu trí khôn, dịch mới Trí khôn phi học đường, Trí khôn sáng tạo).

Khi người được phân công tổ chức tủ sách TLHGD Cánh Buồm đưa thông tin về dự án này trên FB, có một nhà văn trẻ rất chịu đọc sách đã comment rằng: “Cháu thấy sách tâm lý đầy các hiệu sách mà nền giáo dục nước nhà ngày càng lụn bại, vậy giờ còn dịch sách TLHGD làm gì? Có phải người ta không biết về lý thuyết giáo dục đâu, mà nguyên nhân ở chỗ khác!”

Nhưng sự thực có phải sách tâm lý đầy các hiệu sách không? Hãy thử để một buổi tra cứu tổng mục sách TLHGD trong Thư viện Quốc gia hay thử dùng công cụ tìm kiếm Google, ta sẽ có kết quả đáng ngạc nhiên về sự nghèo nàn không tưởng tượng nổi: quanh đi quẩn lại là một số giáo trình đại học, mà nội dung không khác nhau là mấy, và hình như bắt nguồn từ các giáo trình Liên Xô đã rất cũ, lại dạy rất chung chung về những vấn đề tâm lý học khái quát chứ không đi vào những lý thuyết mang tính tri thức học hay liên quan đến sự phát triển trí tuệ là điều thiết cốt mà nhà giáo phải nắm rất vững. Không hề có mặt những tác phẩm gốc của các nhà TLHGD hiện đại hàng đầu thế giới như Alfred Bruner, Alfred Binet, John Dewey, Benjamin Bloom, Claparède, Lev Vygotsky… Có lẽ Howard Gardner là trường hợp hiếm hoi với cuốn “Trí khôn nhiều thành phần” được ra mắt mấy năm gần đây (NXB Giáo dục, 1997, 1998, NXB Tri thức, tái bản có bổ sung, 2013).

Tủ sách TLHGD Cánh Buồm ra đời trong hoàn cảnh ấy. Mặt khác, do chỗ sức nhóm Cánh Buồm có hạn, nên nó phải bắt đầu với những tác giả được nó đánh giá là tiêu biểu: Jean Piaget và Howard Gardner cùng những công trình tâm lý học mang tính gợi ý hơn cả của các ông.

J. Piaget và những nghiên cứu về sự phát triển trí khôn

Jean Piaget (1896 – 1980) là người phát triển tâm lý học theo tư tưởng chủ đạo là sự phát triển trí khôn. Jean Piaget đã tiến hành nghiên cứu tâm lý học trên những trẻ em bình thường. Trước Piaget, nhà sinh lý học Maximilian Wundt ở Đức mới chỉ có công đưa tâm lý học vào con đường thực nghiệm và cho thấy có thể đo nghiệm được những kết quả nghiên cứu tâm lý con người. Tiếp đó, bác sĩ y khoa người Pháp Alfred Binet tiến hành những đo nghiệm tâm lý trẻ em mà mục đích chỉ nhằm loại bỏ được những em không đủ khả năng theo học bậc tiểu học bắt buộc. Bộ đo nghiệm Binet vượt Đại Tây Dương sang Mỹ đã được phát triển hết sức thông minh thành bộ Binet-Simon, dùng những đo nghiệm rộng rãi và bớt tốn kém trên động vật để xác định những thao tác học tập; và khi từ bên kia Đại Tây Dương trở lại châu Âu, nó đã mang theo thuyết hành vi (behaviorism) đang ngự trị.

Behaviorism trong Giáo dục trông cậy tất cả vào người thầy truyền thụ kiến thức. Ông thầy đưa ra kiến thức, rồi quan sát, đo đạc, cải tiến những thay đổi mang tính hành vi trong kiến thức mà học trò tiếp nhận. Việc học như thế có bản chất là một đáp ứng dạng phản xạ có điều kiện hay sự ghi nhớ và lặp lại các khuôn mẫu hành vi cho đến khi chúng trở thành tự động. Nói một cách đơn giản, thuyết hành vi coi kiến thức như những khuôn mẫu được làm hằn vào não đứa trẻ như vào một cục sáp mềm.

Jean Piaget không rơi vào trạng thái có phần nào mang tính chất giáo dục kiểu nước Phổ (Prussian) mà mục tiêu là đào tạo nhân công cho nền đại kỹ nghệ. Jean Piaget đã thay đổi căn bản quan niệm về sự học của đứa trẻ. Ông được coi là nhà tâm lý học nhận thức đã hoàn chỉnh lý thuyết “xây dựng” (Constructivism) trong giáo dục. Thuyết này gắn bó sự phát triển trí khôn của chủ thể với sự trưởng thành tự nhiên về mặt sinh học của chính chủ thể đó.

Ngay từ sơ sinh, chủ thể đã tự học, mà cách thức tự học chính là những phản xạ. Cách “học tập” tự nhiên ban đầu đó được Piaget đặt tên là trình độ trí khôn cảm giác-vận động trước khi trở thành trí khôn thao tác, trước khi thành trí khôn cụ thể, trí khôn trừu tượng. Các “kiến thức” được phát triển ở con người khi thông tin mới đi vào tiếp xúc với kiến thức đã có trong con người nhờ những kinh nghiệm trước đó và đã được “xây dựng” trong những cấu trúc tư duy. Vậy kiến thức là cái được sáng tạo trong quá trình chủ thể khám phá thế giới. Đứa trẻ tự tạo nên kiến thức có nghĩa là làm nên thế giới của chính mình từ kinh nghiệm, thay đổi nó từ chỗ hỗn loạn đến chỗ có tổ chức. Và theo cách đó, Piaget tin rằng một người thầy chủ yếu là người tạo điều kiện thuận lợi, quan sát và hướng dẫn học sinh xây dựng nên kiến thức của chính chúng, hơn là người truyền thụ kiến thức.

Đóng góp của Piaget với giáo dục được tóm tắt ở những điểm sau: 1. Tập trung vào quá trình tư duy của trẻ hơn là ở sản phẩm cuối cùng (tức là chú trọng phương pháp tạo ra kiến thức hơn là một số kiến thức cụ thể); 2. Nhìn nhận vai trò chủ chốt của việc trẻ tự khai tâm, người lớn cần tích cực tham dự vào hoạt động học của trẻ; 3. Tôn trọng tiến trình phát triển từng bước của trí khôn để giáo dục phù hợp với lứa tuổi của trẻ; 4. Chấp nhận sự khác biệt cá nhân trong phát triển.

Điều thú vị mà có thể ta chưa biết: mãi cho đến thập niên 1960, nền giáo dục Mỹ vẫn còn được coi là rất nặng tính “Phổ” của thuyết hành vi, nghĩa là một nền giáo dục nhắm đào tạo công cụ cho cỗ máy công nghiệp hóa, hầu như chưa biết đến Piaget, cho đến khi những tác phẩm quan trọng nhất của ông được dịch ra và cũng đúng lúc giáo dục Mỹ chín muồi cho một sự thay đổi. Không thể phủ nhận tác động của Piaget đối với thành công ngoạn mục của giáo dục Mỹ trong nửa thế kỷ lại đây (Xem “Jean Piaget’s Enlightened Influence on the American Educational System” http://voices.yahoo. com/jean-piagets-enlightened-influence-american-10516715. html?cat=37

Chúng ta dễ dàng nhận ra rằng giáo dục Việt Nam đã có đủ kinh nghiệm thất bại để thấy đã đến thời điểm thuyết TLHGD của Piaget phải được coi như tư tưởng chỉ đạo cho mọi toan tính cải cách căn bản nền giáo dục, mà câu nói sau đây của ông có thể là một triết lý giáo dục mang tính khai minh: “Phần lớn người ta cho rằng giáo dục nghĩa là dẫn dắt đứa trẻ để nó trở thành một người trưởng thành điển hình của xã hội… Nhưng với tôi, giáo dục nghĩa là tạo ra những con người sáng tạo… Ta phải tạo ra các nhà phát minh, các nhà cách tân, không phải những kẻ tuân thủ.” (Jean Piaget, Trò chuyện với Jean Claude Bringuier, 1980)

H. Gardner và lý thuyết về nhiều dạng trí khôn

Howard Gardner sinh năm 1943, khi vào nghề tâm lý học thì ngành học này đã có nhiều thành tựu về tâm lý học phát triển. Ngành học thì phát triển, nhưng cũng để đọng lại những điều có hại cho nền Giáo dục, trong đó điều nguy hại nhất mà H. Gardner chống đối mãnh liệt nhất, đó là hệ thống đo nghiệm tâm trí, đặc biệt là cái chỉ số IQ. H. Gardner coi việc gắn chặt cuộc đời một em bé vào một con số như là tiền định, như là số mệnh, sau khi được hỏi han qua loa bên cây bút chì và tờ giấy trắng, là điều vô lý đến cùng cực, không thể chấp nhận được. Không thể coi IQ là thân phận con người!

H. Gardner rất coi trọng Jean Piaget, thấy ở Piaget người khởi đầu của tâm lý học đích thực. Ông rất tôn trọng những thực hành của Piaget giúp trẻ em ở trường phát triển trí khôn. Song H. Gardner không đồng tình với việc coi trí khôn người như là có một gốc chung duy nhất. H. Gardner đặt câu hỏi: một thiếu niên sinh trưởng ở vùng đảo Thái Bình Dương tuy mù chữ nhưng điều khiển con tàu không bị lạc giữa cả ngàn hòn đảo, em đó có được coi là “thông minh” không? Một tu sĩ Hồi giáo hơn chục năm sống trong tu viện vừa học chữ vừa học thuộc lòng cả bộ Kinh Koran, người đó có được coi là “thông minh” không? Và giữa người nghệ sĩ du ca mù Homer thuộc lòng cả vạn câu thơ và em bé ngồi sáng tác nhạc bên chiếc máy tính điện tử thời nay, hai người ấy có chung một kiểu trí khôn nào không? Những vấn đề như thế, những nghiên cứu sâu vào các loại hồ sơ trí khôn người và các đề án nghiên cứu phát triển tiềm năng người, đã khiến H. Gardner vào năm 40 tuổi (1883) hình thành lý thuyết về những “khung” trí khôn người: trí khôn ngôn ngữ, trí khôn logic-toán, trí khôn không gian, trí khôn cơ thể ở dạng động, trí khôn âm nhạc, trí khôn cá nhân hướng nội, và trí khôn cá nhân hướng ngoại.

Ta thấy rõ, lý thuyết tâm lý học Gardner bổ sung cho cách nghiên cứu cổ điển, căn bản của Piaget, sẽ mang lại một không khí tươi mới, dân chủ, cởi mở cho nhà trường.

***

Xin nói thêm vài lời về việc tại sao lại chọn Piaget và Gardner, phải chăng chọn lựa này cố tình cho thấy chỉ có hai nhà tâm lý học đó là đủ cho nền Giáo dục?

Chắc chắn là không phải vậy rồi! Ngay từ khi thành lập, nhóm Cánh Buồm đã tự nhận chỉ làm những việc mang tính gợi ý – gọi nôm na là “làm mẫu”. Vậy thì, Piaget và Gardner cũng chỉ là những cái “mẫu”.

Nhà giáo Ưu tú Vũ Thế Khôi, cũng là một thành viên của nhóm Cánh Buồm, sau khi thấy các bản thảo dịch Piaget và Gardner, đã nghĩ đến việc dịch Sự phát triển các chức năng thần kinh bậc cao của Lev Vygotsky.

Và chúng tôi cũng còn nghĩ đến công trình khác cũng của Vygotsky về tư duy và ngôn ngữ, những công trình của các nhà tâm lý học sư phạm Nga Xô viết như A. Luria, Leontiev, V. V. Davydov… Nhưng chắc chắn đó không thể là việc làm của một nhóm Cánh Buồm.

 

Tác phẩm của J. Piaget trong Tủ sách TLHGD Cánh Buồm

Sự ra đời trí khôn ở trẻ em (Hoàng Hưng dịch)
Tác giả quan sát mọi hành vi tự phát và phản ứng với các thí nghiệm tâm lý mà ông thử trên từng đứa trẻ, ghi chép tỷ mỷ, tham chiếu các loại lý thuyết tâm lý. Ông đi đến kết luận: ngay từ trong nôi, trẻ đã chứng tỏ một hoạt động cảm giác và vận động khác thường, đến cuối năm thứ nhất thì hoạt động này đã thể hiện mọi tính chất của sự hiểu mang tính trí khôn. Tác giả chia quá trình hình thành trí khôn của trẻ làm những giai đoạn: Thích nghi cảm giác-vận động tạo bởi phản xạ (như bú…) và thích nghi học được; thích nghi cố ý đi từ đồng hóa tái tạo đến phát kiến những phương tiện mới bằng các kết hợp tâm trí. Đó là sự phát triển trí khôn trước khi có ngôn ngữ.

Sự xây dựng cái thực ở trẻ em (Hoàng Hưng dịch)

Nghiên cứu những thời kỳ trẻ đi đến chỗ có được biểu trưng của thế giới khách quan thường trực và độc lập với bản thân chính biểu trưng ấy. Sự xây dựng này được thực hiện bằng hai vận động bổ sung nhau: sự điều tiết tư duy với sự vật và sự đồng hóa các dữ kiện mới bằng cái học được trước đó. Cuốn sách được coi như tác phẩm kinh điển về tâm lý trẻ em.

Sự hình thành biểu tượng ở trẻ em (Nguyễn Xuân Khánh dịch)

Phân tích sự chuyển từ trí khôn cảm giác-vận động sang tư duy dựa trên các biểu tượng và ký hiệu, là bước chuyển quyết định đối với sự tiến hóa của lý tính con người. Thông qua phân tích giấc mơ và trò chơi của trẻ, Piaget vạch lại con đường tạo sinh biểu trưng, từ việc bắt chước tự phát của trẻ còn bú mẹ đến bắt chước chuyển vào trong nội tâm và có hình ảnh của ấu nhi.

Tác phẩm của H. Gardner trong Tủ sách TLHGD Cánh Buồm

Cơ cấu trí khôn – Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn (Phạm Toàn dịch; Nguyễn Dương Khư và Phạm Anh Tuấn hiệu đính)

H. Gardner không phải là nhà tâm lý học như ta vẫn quan niệm. Nói chính xác, ông là người tổng hợp các thành tựu tâm lý học và các thành tựu sinh lý thần kinh, đo nghiệm tâm lý, tâm lý học thực nghiệm, v.v… để xây dựng lý thuyết của mình. Trong Cơ cấu trí khôn ra đời năm 1983, Gardner dùng tám tiêu chí để dựa vào đó mà xem xét thế nào là một trí khôn và từ đó đề xuất bảy dạng trí khôn. Đó là (1) trí khôn ngôn ngữ; (2) trí khôn lô-gich toán; (3) trí khôn không gian; (4) trí khôn âm nhạc; (5) trí khôn cơ thể ở dạng động; (6) trí khôn cá nhân hướng ngoại; (7) trí khôn cá nhân hướng nội.

Cách nhìn trí khôn có nhiều thành phần giúp cho việc tổ chức hợp lý một nền giáo dục tạo ra những con người phát triển tự do thực sự. Quan điểm này đem lại sức mạnh cho người học vì họ được tự do phát triển hết mức năng lực người của bản thân mình.

Trí khôn phi học đường: Trẻ em tư duy thế nào và nhà trường nên dạy các em như thế nào (Phạm Thị Minh Đức, Đào Thúy Hạnh, Đinh Phương Thảo dịch; Dương Tường hiệu đính)

Sách gồm ba phần chính: (1) Những điều khó hiểu trong việc học của con trẻ. (2) Những điều thường bị hiểu sai về giáo dục, về nhà trường, về các môn học, về các cách học. (3) Nên làm chương trình và soạn sách cũng như tổ chức việc học của các em như thế nào.

Một giáo viên đánh giá sách này 5 sao đã viết: “Một cách lý tưởng, sách này nên được học cùng với sách của Piaget và Vygotski. Bộ ba nhà tâm lý học này sẽ tạo thành một toàn thể bổ sung lẫn cho nhau. Trong sách này, Gardner cũng đưa ra ý tưởng rằng sự phát triển tâm trí không mang tính đồng phục và không phải là một quá trình luôn luôn được sắp đặt nghiêm nhặt. Sách này cùng với Trí khôn nhiều thành phần sẽ giúp lý giải cung cách phát triển tâm trí lại không đều nhau như vậy.”

Trí khôn sáng tạo: Giải phẫu tính sáng tạo qua cuộc đời của Freud, Einstein, Picasso, Stravinsky, Eliot, Graham, và Gandhi (Phạm Toàn và Bùi Duy Thanh Mai dịch)

Tác giả tự giới thiệu như sau: “Cuốn sách này vừa là một cao điểm lại vừa là một bước khởi đầu: là một cao điểm ở chỗ nó chứa đựng những mối quan tâm suốt đời tôi đến các hiện tượng thuộc năng lực sáng tạo và những đặc điểm lịch sử của sự sáng tạo; là một bước khởi đầu ở chỗ nó đưa ra một cách tiếp cận mới để nghiên cứu những nỗ lực sáng tạo của con người, một phương diện cần đến cả những truyền thống xã hội và khoa học lẫn những truyền thống nhân văn.

… Cách tiếp cận của tôi với việc nghiên cứu tính sáng tạo được bắt đầu với việc tập trung vào tiểu sử – bằng cách xem xét thật thấu đáo vào những giai đoạn trong cuộc đời một cá nhân sáng tạo khi một bước đột phá được hình thành trong khái niệm, rồi được thể hiện ra, và được phản ứng lại bởi những cá nhân có tiếng tăm và bởi những tổ chức có liên hệ.”

Tuy nhiên, trong thực tiễn giảng dạy, sách này không được đánh giá với sự “nhất trí cao”. Chính sự khác biệt trong tiếp nhận tác phẩm này có khi lại là một điều hấp dẫn người đọc nghiêm túc chăng?

THÀNH VIÊN VIẾT BÀI/TƯƠNG TÁC : BTV