NHIỆM VỤ CUỐI CÙNG TRONG CUỘC ĐỜI
Bút ký
TRẦN THẾ TUYỂN
Trong cuộc đời một con người, nhất là một người lính, có lẽ không ai nhớ hết những lần mình được giao nhiệm vụ. Tôi cũng vậy.
Mười tám tuổi vào quân ngũ. Rồi chiến trường, Trường Sơn, miền Đông Nam Bộ, biên giới Tây Nam… Mỗi chặng đường là một lần nhận nhiệm vụ. Có nhiệm vụ đến từ cấp trên, có nhiệm vụ đến từ tổ chức, có nhiệm vụ do hoàn cảnh đặt lên vai mình. Những nhiệm vụ ấy gắn với quân hàm, chức vụ, trách nhiệm. Có lương, có thưởng, có sự ghi nhận, có cả những bước trưởng thành trong nghề nghiệp.
Nhưng có một nhiệm vụ, đến khi tuổi đã xế chiều, tôi vẫn nhớ mãi. Tôi gọi đó là nhiệm vụ cuối cùng trong cuộc đời công tác của mình.
Đó là vào dịp giỗ cha tôi lần thứ hai mươi.
Buổi sáng hôm ấy, ở quê, bà con, anh em đã về đông đủ. Trong không khí ấm cúng của ngày giỗ, điện thoại tôi reo. Đầu dây bên kia là Trung tướng Lê Văn Hân, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, khi ấy là Chủ tịch Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam.
Tôi phải chạy ra tận bờ ao mới nghe được điện thoại.
Giọng ông vẫn sang sảng, nhưng câu nói đầu tiên làm tôi chững lại:
“Liệt sĩ rất cần. Các anh rất cần. Chú mày tiếp tục gánh vác nhiệm vụ đi tìm đồng đội”.
Tôi im lặng nghe.
Ông nói tiếp, đại ý rằng tôi có hai điều mà Hội đang cần. Thứ nhất là cái tâm. Thứ hai là kinh nghiệm.
Ông nhắc đến những năm tôi làm báo, đặc biệt là thời gian công tác ở Báo Sài Gòn Giải Phóng; chương trình Nghĩa tình Trường Sơn, những hoạt động tri ân đồng đội, xây dựng các công trình tưởng niệm, xác định danh tính liệt sĩ, trao tặng hơn một nghìn căn nhà tình nghĩa…
“Đó là những kinh nghiệm để chú tiếp tục nhận nhiệm vụ”, Trung tướng nói.
Tôi thưa với ông:
“Em bây giờ đang dạy học ở Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, khoa Báo chí – Xuất bản. Em muốn quãng thời gian còn lại của đời mình dành cho dạy học và viết sách. Viết những điều mình tai nghe, mắt thấy, những điều không phải ai cũng có thể viết, để lại cho đồng đội, cho đời sau biết về những năm tháng hào hùng của chúng ta”.
Tôi xin ông cho mình vài ngày suy nghĩ.
Đặt điện thoại xuống, tôi đứng bên bờ ao quê nhà mà lòng ngổn ngang.
Một bên là mong muốn của riêng mình: dạy học, viết sách, sống chậm lại sau hơn nửa thế kỷ làm báo, làm lính. Một bên là lời gọi của đồng đội. Mà lời gọi của đồng đội, với người lính, đâu dễ làm ngơ!
Tôi trở vào nhà. Trước ban thờ cha, tôi thắp một nén nhang rồi khấn:
“Bố ơi! Nếu bố đồng ý cho con tiếp tục gánh vác công việc này, bố cho con một biểu hiện để con biết”.
Nén nhang vừa cắm lên ban thờ thì bất chợt bùng cháy.
Tôi đứng lặng. Không biết người khác nghĩ thế nào, nhưng với tôi, đó là một lời hồi đáp. Tôi hiểu rằng cha đã đồng ý.
Và thế là tôi nhận lời.
Từ một cuộc điện thoại bên bờ ao quê nhà, tôi bước vào một chặng đường khác của cuộc đời mình: đi tìm đồng đội, tri ân liệt sĩ, hỗ trợ gia đình liệt sĩ.
Tôi tham gia vận động thành lập Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 29 tháng 4 năm 2020, Hội được UBND Thành phố quyết định thành lập. Ngày 10 tháng 7 năm ấy, Hội tổ chức ra mắt và Đại hội lần thứ nhất. Tôi được bầu làm Chủ tịch Hội.
Ít tháng sau, Đại hội toàn quốc Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam bầu tôi làm Phó Chủ tịch Trung ương Hội. Tôi tiếp tục trực tiếp đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm năm, từ 2020 đến 2025, là một quãng thời gian đầy cảm hứng nhưng cũng không ít nhọc nhằn.
Với vai trò Chủ tịch Hội, tôi đã kết nối được nhiều người cùng chung tay chăm lo cho các gia đình liệt sĩ, thương binh. Trong số đó có những tướng lĩnh uy tín, từng đảm nhiệm những trọng trách của quân đội và đất nước như Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lưu Phước Lượng, nguyên Chính ủy Quân khu 9, nguyên Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ; Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Triệu Xuân Hòa, nguyên Tư lệnh Quân khu 7, nguyên Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nguyên; Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thái Bê, nguyên Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân II; các Trung tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Hải, Trần Xuân Ninh, Từ Ngọc Lương, Hoàng Văn Minh… Cùng với đó là những doanh nhân có tâm, có tầm như chị Đỗ Liên, anh Lê Tự Minh, Tập đoàn Phương Trang, TCT Dương Phong, DN Mai Xuân Thọ, Doanh nhân Vũ Hường, DN Nguyễn Minh Sơn và nhiều tổ chức, cá nhân hảo tâm khác.
Một số hình ảnh trong tư liệu viết bút ký.











Tôi luôn nghĩ, một mình mình không thể làm nên việc lớn. Điều đáng quý nhất là đã tập hợp được những tấm lòng, những con người cùng hướng về một mục tiêu: tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc, chăm lo cho những gia đình còn mang nặng mất mát chiến tranh.
Những gì tôi làm được không thể tách rời sự đồng hành, ủng hộ của các anh các chị các em các cháu trong Hội. Đó là Đại tá Lê Thanh Song, Kỹ sư doanh nhân Trình Tự Kha, Luật sư Trần Văn Sự, Đại tá Nguyễn Văn Bạch, Đại tá Nguyễn Văn Ái, Nhà báo Đan Hà, Nhà báo Minh Phong, Nhà báo Kim Sáng, NSND Lê Thuỵ, DN Nguyễn Hoài Nam, Đại tá Bùi Xuân Tiến, Đại tá Nguyễn Hạnh, Thượng tá Trần Học, Nhà báo Phạm Văn, Luật sư Nguyễn Đồng Bằng, Phạm Út, Nguyễn Thị Thảo, Hồng Phương, Mỹ Dung…
Và không thể thiếu những người bạn đời của chúng tôi trong nhóm “ Chị em chúng mình”. Chính họ lại thêm lần nữa là “ hậu phương vững chắc” cho chúng tôi sung trận.
Năm năm ấy, tôi đi thêm một đoạn đường mà trước đó chưa bao giờ nghĩ mình sẽ đi.
Từ một căn phòng làm việc, chúng tôi đến với những gia đình liệt sĩ. Từ những hồ sơ, danh sách, thông tin ít ỏi, chúng tôi lần tìm những người đã nằm lại đâu đó trên đất nước này.
Có khi chỉ là một cái tên. Có khi chỉ là một quê quán. Có khi là tên một đơn vị. Có khi chỉ còn một dòng chữ trên tờ giấy cũ.
Nhưng phía sau mỗi cái tên là một cuộc đời. Và phía sau mỗi cuộc đời là một người mẹ, một người cha, một người vợ, một đứa con đã chờ đợi suốt mấy chục năm.
Càng đi, tôi càng thấm thía một điều: chiến tranh kết thúc không có nghĩa là mọi cuộc chia ly đã kết thúc.
Với hàng vạn gia đình liệt sĩ, chiến tranh chỉ thực sự khép lại khi họ tìm được phần mộ người thân, biết được nơi người thân đã nằm xuống, hoặc ít nhất nhận được một thông tin đủ để lòng mình vơi đi nỗi day dứt.
Chúng tôi làm những việc tưởng nhỏ mà không nhỏ: vận động nguồn lực xã hội để hỗ trợ gia đình liệt sĩ khó khăn; trao nhà tình nghĩa; thăm hỏi, tặng quà; phối hợp tìm kiếm thông tin về liệt sĩ, phần mộ liệt sĩ; kết nối nhân chứng, đồng đội cũ; trở lại những chiến trường xưa, gặp những người còn nhớ đồng đội mình.
Đặc biệt, khi đại dịch COVID-19 như một bóng ma bao trùm đất nước, những người làm công tác Hội chúng tôi vẫn vào cuộc với tinh thần của những người lính. Trong hoàn cảnh khó khăn, việc chăm lo cho các gia đình liệt sĩ càng không thể bị bỏ quên. Chúng tôi cùng nhau tìm cách duy trì hoạt động, kết nối những tấm lòng, chia sẻ khó khăn với những gia đình cần được giúp đỡ.
Có những cuộc gặp chỉ kéo dài vài phút nhưng ám ảnh cả đời. Có những chuyến đi chưa mang về được hài cốt, nhưng mang về một cái tên. Có những hồ sơ chưa thể khép lại, nhưng mở ra một niềm hy vọng.
Và có những lần đứng trước một nghĩa trang, tôi lại nhớ đến người em trai của mình – liệt sĩ Trần Văn Thiềng, sinh năm 1954, hy sinh năm 1973 ở Mỹ Tho.
Tôi đi tìm đồng đội, thực ra cũng là đi tìm một phần đời của chính mình.
Bởi những người nằm xuống không chỉ là những con số thống kê. Họ từng là những chàng trai mười tám, đôi mươi. Họ từng có mẹ, có cha, có người yêu, có ước mơ. Họ từng cùng chúng tôi hành quân, ăn chung một bữa cơm, nằm chung một cánh rừng, chia nhau ngụm nước giữa những ngày chiến tranh.
Vì thế, mỗi lần tìm được thông tin về một người, tôi có cảm giác như đón một người bạn cũ trở về.
Năm năm làm công tác Hội, tôi càng hiểu rằng chữ “tri ân” không phải là một khẩu hiệu. Tri ân phải được thể hiện bằng việc làm.
Có thể là một ngôi nhà, một phần quà, một hồ sơ được xác minh, một chuyến đi, một cuộc gặp, một nén nhang. Hay đơn giản chỉ là cú điện thoại báo cho một gia đình rằng: “Chúng tôi đã tìm thấy thông tin về liệt sĩ của gia đình”.
Những việc ấy, nếu tính bằng tiền, có thể không lớn. Nhưng nếu tính bằng tình người, thì không có thước đo nào đủ.
Tôi đã từng làm nhiều công việc: người lính, nhà báo, người quản lý báo chí, thầy giáo, người viết văn. Ở những công việc ấy, tôi đều có một nhiệm vụ cụ thể. Tôi được trả lương, có chế độ, có thưởng, có sự ghi nhận, có những bước tiến trong nghề nghiệp.
Còn nhiệm vụ lần này thì khác.
Không có lương. Không có thưởng. Không có chức vụ để phấn đấu. Tôi phải bỏ thời gian, công sức, thậm chí cả tiền bạc của mình để đi lại, gặp gỡ, tổ chức công việc. Quan trọng hơn, tôi phải dùng uy tín cá nhân để vận động các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm và những người có tấm lòng với người có công cùng chung tay.
Tôi từng nghĩ: đến tuổi này, mình đã làm đủ rồi.
Nhưng rồi tôi hiểu: đối với người lính, có những nhiệm vụ không thể tính bằng tuổi tác. Khi đồng đội còn nằm đâu đó trong đất mẹ, khi những gia đình liệt sĩ còn chờ đợi, thì mình chưa thể nói rằng mình đã nghỉ.
Có lẽ vì thế mà năm năm ấy trôi qua rất nhanh.
Tôi không còn nhớ mình đã đi bao nhiêu chuyến, gặp bao nhiêu gia đình, dự bao nhiêu cuộc tri ân. Tôi chỉ nhớ những khuôn mặt: những bà mẹ già, những người vợ tóc đã bạc, những người con cả đời đi tìm cha, những đồng đội đã già nhưng vẫn nhớ từng người đã hy sinh. Và những nén nhang nghi ngút trong các nghĩa trang, đền tưởng niệm.
Có những nơi tôi đến, đứng trước những phần mộ chưa xác định được danh tính, lòng mình nghẹn lại.
Tôi nghĩ đến câu thơ mình từng viết:
“Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc
Hồn bay lên hóa linh khí quốc gia”.
Đó không chỉ là thơ. Đó là cách tôi nhìn những người đã hy sinh. Thân thể các anh đã hòa vào đất mẹ. Nhưng ký ức về các anh không được phép mất đi.
Bởi vậy, nhiệm vụ đi tìm đồng đội đối với tôi không chỉ là một công việc xã hội. Đó là một phần của đời lính, là món nợ với những người đã nằm xuống, là cách một người còn sống trả nghĩa với những người không còn trở về.
Đến hôm nay, nhìn lại chặng đường ấy, tôi vẫn nghĩ về buổi sáng năm nào bên bờ ao quê nhà.
Nếu hôm ấy Trung tướng Lê Văn Hân không gọi điện? Nếu tôi không chạy ra bờ ao nghe máy? Nếu tôi không xin phép cha? Nếu nén nhang hôm ấy không bùng cháy?
Có lẽ cuộc đời tôi đã đi theo một hướng khác.
Tôi sẽ tiếp tục dạy học, tiếp tục viết, tiếp tục sống với những trang sách, những bài báo, những câu thơ. Nhưng có lẽ trong lòng vẫn còn một khoảng trống.
Bây giờ tôi hiểu: có những cuộc gọi trong đời không đơn thuần là một cuộc gọi. Có những lời giao nhiệm vụ không đơn thuần là một mệnh lệnh. Và có những nhiệm vụ đến với ta khi tưởng rằng mình đã đi gần hết con đường công tác.
Năm 2025, tôi khép lại năm năm trực tiếp làm Chủ tịch Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh. Đại hội đã tín nhiệm bầu Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thái Bê, nguyên Chính ủy Quân đoàn 4, nguyên Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân 2, đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội.
Tôi trở về với sách, với trang viết, với lớp học, với những hồi ức của đời mình. Nhưng tôi biết, mình không thể “nghỉ” việc đi tìm đồng đội.
Bởi nhiệm vụ ấy, thực ra, không bao giờ có ngày hoàn thành. Chừng nào còn một gia đình liệt sĩ chưa biết phần mộ người thân ở đâu, chừng nào còn một cái tên chưa được trả lại đúng với người đã hy sinh, chừng nào còn một đồng đội nằm lại đâu đó chưa được gọi tên, thì trong lòng người lính chúng tôi vẫn còn một món nợ.
Tôi đã nhận nhiệm vụ ấy từ một cuộc điện thoại bên bờ ao. Tôi nhận nó trước ban thờ cha. Và tôi đã đi với nó suốt năm năm.
Bây giờ nhìn lại, tôi không nghĩ đó chỉ là nhiệm vụ cuối cùng của đời công tác. Tôi nghĩ đó còn là nhiệm vụ đẹp nhất mà cuộc đời đã trao cho mình.
Bởi những nhiệm vụ trước đây giúp tôi trưởng thành trong nghề nghiệp. Còn nhiệm vụ này giúp tôi hiểu sâu sắc hơn hai chữ đồng đội.
Tôi nghĩ, một đời người rồi cũng qua. Một người lính rồi cũng đến lúc đặt ba lô xuống. Một nhà báo rồi cũng có ngày khép lại trang bản thảo. Nhưng nghĩa tình với những người đã ngã xuống thì không có tuổi nghỉ hưu.
Tôi vẫn tin như vậy.
Và nếu một ngày nào đó, giữa một buổi chiều rất muộn của cuộc đời, có ai hỏi tôi:
“Sau hơn nửa thế kỷ làm lính, làm báo, làm thầy giáo, làm người viết, điều gì ông nhớ nhất?”.
Có lẽ tôi sẽ trả lời rất giản dị:
Tôi nhớ một buổi sáng ở quê nhà. Một cuộc điện thoại bên bờ ao. Một lời gọi: “Liệt sĩ rất cần. Các anh rất cần”. Và một nén nhang trước ban thờ cha bất chợt bùng cháy.
Từ đó, tôi lại lên đường.
Đi tìm đồng đội.
Tháng 11-2026
TTT
